Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

Phiếm luận: TIẾNG CHUÔNG HÒA BÌNH...


                     TIẾNG CHUÔNG HÒA BÌNH VÀ 
                          TƯỞNG NIỆM


                                                   Tiểu dẫn: Bài đã đăng trên báo Văn nghệ

                                                                           số 34 (21/8-2004) với nhan đề "Mỗi nghĩa

                                                                           trang Quốc gia nên có tháp chuông". Nay

                                                                                  đăng trên blog NGƯỜI CẦU AM mà

                                                                            tác giả là chủ bút với tên ban đầu đã đặt .

                                                                                                                25/8-2013

                                                                                                                      TH

Báo Văn Nghệ số 30 (24/7-2002) đăng bài "Chuông và trống" của Bùi Bình Thi, tác giả phân biệt chức năng của chuông và trống:
"...Chuông chỉ dành cho những gì thiêng liêng.
Trống chỉ dành cho những gì thuộc về hội hè.
Chuông thuộc về Lễ. Trống thuộc về Hội. LễKính, mà HộiHòa, là vui vẻ, nồng nhiệt."
Tác giả còn nói rõ thêm:
"Những gì có tính chất Kỷ niệm, Tưởng nhớ, Ôn lại về những ngày trọng đại của một quốc gia, một vùng, một nơi, về kỷ niệm ngày Lập Quốc, về sự tưởng niệm những thánh thần có công, về sự tưởng nhớ đến anh linh của liệt sĩ v.v... thì đấy đều thuộc về Lễ. Một khi đã thuộc về Lễ thì dùng Chuông." (Người viết tô đậm các chữ để nhấn mạnh - TH).

Nhân vậy, khi xem VTV3 Đài truyền hình Việt Nam truyền hình trực tiếp Lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại nghĩa trang Quốc gia Trường Sơn ở Quảng Trị, lúc 18h ngày 27/7-2004, một sự kiện mà trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn nói tại buổi lễ trọng đại này: "Đó là một sự kiện chưa từng có, một nghĩa cử cao đẹp, uống nước nhớ nguồn...", tôi cứ ao ước, giá lúc bắt đầu lễ dâng hương, nhiều đồng bào, chiến sĩ ta đi thắp hương, thắp nến trên hàng ngàn ngôi mộ kia. Thay vì tiếng thuyết minh trên nền nhạc và tiếng hát, là tiếng chuông được thỉnh lên, được gióng lên, vang trên thinh không và lan ra khắp cõi, thì ý nghĩa biết bao, thiêng liêng biết bao, và càng có ý nghĩa ân thưởng công lao các anh hùng liệt sĩ.

Hòa bình lập lại và thống nhất đất nước ta đã ngót một phần ba thế kỷ, mà còn biết bao nhiêu người con ưu tú ra đi giữ nước vẫn mất tích, còn bao ngôi mộ chiến sĩ vô danh! Việc quy tập mộ liệt sĩ đang được tiếp tục và xây thêm nhiều nghĩa trang để tưởng niệm. Gần như xã nào (chưa nói cấp lớn hơn Từ huyện trở lên) đều có nghĩa trang liệt sĩ. Riêng nghĩa trang quốc gia cũng đã được xây dựng ở các miền đất nước. Vừa mới đây, để kịp đón lễ kỷ niệm ngày 27/7-2004, đã khánh thành nghĩa trang quốc gia trên tỉnh Hà Giang để tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ có công bảo vệ đất nước thuộc các tỉnh từ Quảng Bình trở ra.

Như vậy nghĩa trang quốc gia không nhiều, có thể đếm trên đầu ngón tay. Với ý nghĩa tưởng niệm và ghi nhớ công ơn các anh hùng liệt sĩ, thì những ngày lễ như 27/7 hàng năm, dịp tết Nguyên Đán, đều có các đoàn của Đảng, Nhà nước, của các địa phương đến nghĩa trang quốc gia và làm lễ dâng hương. Thiết nghĩ, giá mỗi nghĩa trang quốc gia có một tháp chuông nhỏ, vừa bổ sung thêm một nét kiến trúc đẹp và độc đáo cho từng nghĩa trang, để khi hành lễ thỉnh chuông vào dịp này, cũng như vào các ngày lễ trọng khác, thì tiếng chuông càng có ý nghĩa tôn vinh anh linh các anh hùng liệt sĩ, nhắc nhở người đang sống phải sống sao cho xứng đáng với những hy sinh vô bờ bến của những người ngã xuống không tiếc máu xương vì hòa bình và phồn vinh của đất nước.

Tiếng chuông thanh bình ngân nga chiều chiều ở các vùng quê, như từ xưa đến nay thường gắn liền với đức tin và cầu an lành. Khi cuộc sống bất an, bất ổn và tao loạn thì chuông cũng không ngân. Vậy nên tiếng chuông là dấu hiệu của hòa bình.

Nếu mỗi nghĩa trang quốc gia, và hơn nữa, ở cả các nghĩa trang dành cho anh hùng liệt sĩ hy sinh trong các chiến dịch lớn, có ý nghĩa quyết định đến cục diện chiến tranh và chiều hướng tiến triển các sự kiện lịch sử, như nghĩa trang Điện Biên Phủ, nghĩa trang Đường Chín... được xây một tháp chuông để khi các đoàn Nhà nước, các địa phương và đồng bào đến viếng và dâng hương trong những ngày lễ lớn, tiếng chuông gióng lên sẽ làm an lòng người thân các gia đình liệt sĩ, dù họ có đến viếng tại nghĩa trang hay ở quê nhà đang vọng tưởng, nhất là đối với các gia đình liệt sĩ chưa tìm được hài cốt của ông, cha, chồng, con, em mình. Đồng thời tiếng chuông cũng tôn vinh và khẳng định thành tựu chiến thắng mà các anh hùng, chiến sĩ đã góp phần xương máu lập nên, đang nở hoa kết trái trên khắp quê hương thanh bình.

Được như vậy, đó sẽ là:
TIẾNG CHUÔNG HÒA BÌNH VÀ TƯỞNG NIỆM!

                                                              1/8-2004
                                                          TRẦN  HÙNG
                                                        (Trần Kiều Am)                


                                                

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

Tập Kiều: RU ĐÊM

                             

                                    RU  ĐÊM

                              (Tập Kiều)




                             KHÚC I: Nợ tình chưa trả



                                    Giật mình thoắt tỉnh giấc mai

                         Ngẩn ngơ trăm nỗi dùi mài một thân.

                                     Nỗi lòng đòi đoạn xa gần

                         Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.

                                     Tiếc thay chút nghĩa cũ càng

                         Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung.

                                     Ngoài ngàn dặm  chốc ba đông,

                         Cắn răng bẻ một chữ đồng làm hai.

                                     Nợ tình chưa trả cho ai,

                         Còn thân còn một đền bồi có khi.

                                     Người đâu gặp gỡ làm chi

                         Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn...







                                     KHÚC II: Chín chữ cù lao



                                     Cớ sao trằn trọc canh khuya,

                         Tấm riêng riêng những nặng vì nước non.

                                     Ruột tằm ngày một héo hon,

                          Lần lừa ai biết có còn hôm nay.

                                     Nghìn xưa âu cũng thế này,

                          Xuân thu biết đã đổi thay mấy lần.

                                     Nghĩ mình túng đất sảy chân,

                          Mà xem con tạo xoay vần đến đâu.

                                     Nhớ ơn chín chữ cù lao,

                          Tuyết sương nhuộm nửa mái đầu hoa râm.

                                     Lấy tình thâm trả nghĩa thâm,

                          Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng.

                                     Công tư hai việc đều xong

                          Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi?



                                                             15 / XII - 2012
                                                           TRẦN KIỀU AM

                                                        (Những đêm mất ngủ)

  




                       

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Tản văn: THỦY TẠ HAY THỦY TỌA?



           THỦY TẠ HAY THỦY TỌA?

                   (Tản mạn chuyện chữ nghĩa)



                                    Tiểu dẫn: Bài đăng trên báo Văn Nghệ,

                                     số 45/2002, nay thấy nội dung vẫn đáng

                                     được quan tâm, nên cho đăng trên blog

                                      NGƯỜI CẦU AM mà tác gỉa là chủ bút.



                                                                     10/9-2013

                                                                          TH





Hà Nội đang vào tiết trời đẹp nhất trong năm. Nắng hanh vàng rực rỡ, hồ Hoàn Kiếm xanh như ngọc, khiến khách ngồi ở nhà hàng Thủy Tạ càng thấy thêm ý vị. Mới đầu buổi chiều, khách chưa đông, hai vị khách ăn mặc phong lưu, có vẻ tâm đầu ý hợp, hơi bia đã ngà ngà, một ông cao giọng:

- Nhà hàng sao lại lấy tên là Thủy Tạ? Phải Thủy Tọa mới đúng!



Ông bạn cùng bàn không quan tâm lắm đến điều ông kia vừa nói. Nhưng ở bàn bên, một ông đang nhâm nhi ly cà phê khẽ khàng cất tiếng:

- Hai ông bỏ quá cho, là vì ngồi gần nên dẫu không muốn cũng đã nghe điều ông vừa nói. Nhà hàng này tồn tại đã bao năm, lại tọa lạc ở nơi đông người qua lại, bây giờ mới được nghe ông nói tên nhà hàng này không đúng. Đang là lúc "trà dư tửu hậu", mong ông vui lòng giảng cho đôi điều thì thật lấy làm vinh hạnh.



Đến đây câu chuyện xem ra có điều lý thú, không những vài người khách ngồi gần lắng nghe, mà đôi ba nhân viên nhà hàng, nhân lúc ít việc, rểnh rang cũng chú ý theo dõi. Ông khách được hỏi cảm thấy mọi người để ý nên giảng giải:

- Có gì đâu, tiếng Hán "tọa" là ngồi, nhà ở trên mặt nước thì phải là Thủy Tọa mới có nghĩa chứ...



Vẫn ông khách ngồi bàn bên nói:

- Dân ta nhiều người thích chuyện Tam Quốc diễn nghĩa, nên không lạ gì phép dùng binh "Tọa sơn quan hổ đấu", nhưng đây là thủy tọa - ngồi trên nước, vậy cái gì ngồi trên nước? Chưa nói được là cái nhà hay cái lầu. Xin ông thứ lỗi, nói thế này e có điều khiếm nhã. Ở xứ ta là xứ đồng nước, khái niệm ngồi trên nước gợi hình ảnh không đẹp, nhất là ở những vùng chiêm trũng xưa kia và những vùng ngập lũ, nước nổi ngày nay, thậm chí ở những đầm, hồ nuôi cá...



  
Câu chuyện có cơ xoay sang chiều  căng thẳng, thì một anh nhân viên trẻ măng, trên ngực có đeo biển nhà hàng Thủy Tạ, lại gần lễ phép thưa:

- Thưa các bác, đang là lúc nhàn việc, cháu xin mạn phép hầu chuyện. Cháu mới vào làm nhà hàng này, nên rất muốn biết ý nghĩa tên của nhà hàng. Cháu có hỏi thầy dạy cháu, thầy giảng thế này không biết đã phải lẽ chưa?

- Chữ Hán cùng một cách đọc nhưng có khi viết lại khác nhau. Chữ viết khác nhau, nên nghĩa cũng khác nhau. Chữ "tạ" hay dùng như tạ ơn, tạ biệt, tạ từ khác chữ "tạ" khác là có bộ "ngôn" ở bên trái chữ, còn chữ "tạ" lấy làm tên nhà hàng đây, thì bên trái chữ lại là bộ "mộc", có nghĩa là nhà sàn, là cái đài cao. Thủy Tạ là nhà sàn trên mặt nước...



Không nghe anh thanh niên nói hết câu, hai ông khách uống bia vội thanh toán tiền rồi đứng dậy. Ông khách uống cà phê cũng chậm rãi đứng lên. Khi ông bước qua cửa, người ta còn nghe tiếng ông như tự nói với mình:



- Khổng Tử dạy chẳng sai: "Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã!" (Biết cái gì nhận là biết, chẳng biết cái gì nhận là chẳng biết, như thế là biết vậy)



                                                                    18/9-2002

                                                                  TRẦN HÙNG

                                                                 (Trần Kiều Am)

                                                                 


          

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

Thơ Tứ tuyệt: BÌNH HOA CŨ, SAO BĂNG, TRANG ĐỜI

         

                                 BÌNH HOA CŨ


                 Bình hoa quên lãng trên ngăn giá,

                 Đã chịu bao năm phận rỗng suông!

                 Thưởng hoa, bình đẹp ai người biết

                 Giá trị là phần rỗng ở trong? (1)



                                                    18/ 11 - 2009

                 Chú thích: * Mượn ý của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh, chương XI: "Duyên thực dĩ vi khí/ Đương kỳ vô hữu khí chi dụng". (Nhồi đất để làm chén bát/ Nhờ chỗ "không" mới có cái "dụng" của chén bát").Và "Hữu chi dĩ vi lợi/ Vô chi dĩ vi dụng". (Cái "có" lấy làm cái "lợi"/ Cái "không" để làm cái "dụng")



                SAO  BĂNG

     

                     Ngước nhìn sao băng giữa vạn sao đêm,

                     Lộng lẫy đẹp ai hay,

                                                  ai thấu hiểu?

                     Vụt chói sáng, cháy hết mình kết liễu.

                     Lạc bước thiên đường,

                                                   giọt lệ ai bay?



                                                              31/ 01 - 2010

                                                




                                      TRANG ĐỜI



                        Ngày tiếp ngày như những trang giấy trắng,

                        Cả đời người là vở mới tinh khôi.

                        Hãy trân trọng, đừng nháp bừa viết ẩu,

                        Mỗi ngày qua đáp án đúng sai rồi.



                                                        11 / XI - 2012




                     

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

Thơ tứ tuyệt: HOA HOÀNG LAN, CÂY KHẾ

                    

   






     HOA HOÀNG LAN



Chẳng thấy hoàng lan,

                              nhà mới xây.

Lối cũ tìm về có gặp ai?

Người nhặt hoa xưa giờ vắng bóng,

Phong kín bê tông những dấu hài.



                                30/8-2003





        CÂY KHẾ



Cây khế nghiêng cành trên mái cổng,

Giữ hồn ai mát nẻo về làng.

Chim trả nghĩa vàng từng quả ngọt,

Lòng quê đâu chỉ túi ba gang.



                                          5 / 2007