Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2013

Bình thơ: CHỢ XUÂN...


                      CHỢ XUÂN - MỘT CHÚT HỜN...  
        

                                                Tiểu dẫn: Bài được giải Tham gia bình thơ

                                                                        mừng "Thế giới trong ta" tròn 4 tuổi, đã in

                                                                        trên tạp chí này số 64/1998, nay đăng trên blog

                                                                            NGƯỜI CẦU AM, mà tác giả là chủ bút.

                                                                                                                      22/8-2013

                                                                                                                           TH



                  Mùa xuân em đi chợ Hạ,

        Mua cá thu về chợ hãy còn đông.

                  Ai nói với anh là em đã có chồng?

        Bực mình em đổ cá xuống sông, em về.



                                          Ca dao



Hai câu đầu của bài ca dao tả người, tả cảnh bình thường mà khéo gói gọn quy luật biến đổi thời gian bốn mùa (Và có lẽ của cả đời người): Xuân, Hạ, Thu, Đông! Mặc dù bốn từ đó: một chỉ thời gian, một chỉ địa danh, một chỉ vật phẩm, một chỉ trạng thái.                        



Một năm mở đầu bằng mùa Xuân, Xuân của đất trời, cũng là Xuân của lòng người đang tuổi thanh xuân, phơi phới lắm, rạo rực lắm. Lại là lúc đầu ngày, chợ đông người mua, kẻ bán. Cô gái đi chợ mua hàng hay cốt để khoe duyên? Chàng trai nhàn tản như kẻ du xuân, khôn ngoan thì đã hẳn, "trai khôn kén vợ chợ đông"! Nào có thấy anh ta mua gì, đi chợ, vui xuân, tìm bạn sánh duyên?                  



Nhưng vì trẻ trung, thiếu từng trải, lại cả tin, mới nghe nói vu vơ cô gái có chồng, anh đã chẳng muốn "người đâu gặp gỡ làm chi...". Cô gái thanh xuân nhường ấy, giòn tươi nhường ấy mà bị lầm tưởng là gái có chồng, thì cái người nam tỏ ra hững hờ kia sao không khỏi làm cho cô chạnh lòng? Nỗi bực mình xem chừng vô cớ, vì cô có thể trách ai? Trách anh thì không trách được, trách ai nữa thì cũng như chẳng trách người nào. Một chút giận hờn, nũng nịu làm duyên, hay cô chưa muốn neo chặt đời mình ở một bến nước nào, tù túng xuôi ngược chỉ trên một dòng sông? Cô vẫn muốn mình được tự do, tung tăng như cá bơi dưới nước, đợi ngày ra tận khơi xa?



Bài ca dao mộc mạc, lời lẽ không cầu kỳ, hay ở cấu tứ như một truyện ngắn. Có mở đầu: cô gái "đi chợ". Có kết thúc: "Đổ cá xuống sông, em về". Có thời gian: Mùa Xuân. Có không gian: Chợ hãy còn đông. Có nhân vật: Em, anh, ai. Có tâm trạng: Vui, bực mình.



Khi đi chợ cô gái vui tươi, nhí nhảnh, hai câu đầu nhịp thơ ngắt quãng như bước đi nhún nhảy: 



                  Mùa Xuân // em đi chợ Hạ //

        Mua cá thu về // chợ hãy còn đông //.



hai câu sau thể thơ lục bát phá cách như cô gái tâm tình rất trẻ, nồng hậu, nhưng cũng không còn vô tư, có lúc không làm chủ được hành động của mình. Câu thứ ba như một câu hỏi xẵng, không kìm nén, nên thốt ra thành một thôi dài, không thể ngắt: "Ai nói với anh rằng em đã có chồng?" Câu cuối chỉ tâm trạng không phải ở nỗi lòng, tình cảm nữa, mà đã biến thành hành động quả quyết: "Đổ cá xuống sông, em về".



Em về nhưng cá cũng được về nguồn, cá sẽ vượt vũ môn, thử thách, sóng gió rồi sẽ qua đi. Chính vì vậy bài ca dao kết thúc với cấu trúc mở: "...cá xuống sông, em về". Nhưng chắc chắn rồi em sẽ lại đến chợ, rồi anh sẽ lại gặp em, như "cá gặp nước như rồng gặp mây"... Ngày xuân còn dài, chợ họp theo phiên, phiên này tan còn những phiên sau. Anh và em đều rất trẻ, cuộc đời mở ra như "buổi chợ đang đông"...



Chợ xuân là một nét đẹp sinh hoạt văn hóa, nơi gặp gỡ của trai thanh gái lịch của một vùng quê. Làm sao cầm lòng cho đặng khi đất trời và lòng người đang xao xuyến mùa xuân!...



                                                                     3/ 1998

                                                                TRẦN  HÙNG

                                                               (Trần Kiều Am)



Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

Phiếm luận: THƠ HAY... LÀ KHÓ



                  THƠ HAY... LÀ KHÓ

                                    Tiểu dẫn: Bài viết cách nay hơn chục năm,
                                                                     Thấy vẫn còn ý nghĩa thực tế,
                                                         nên cho đăng trên Blog NGƯỜI CẦU AM
                                                                          mà tác giả là chủ bút. 
                                                                                          19/8-2013
                                                                                                TH   

Chỉ mới đây thôi, tôi được bạn bè, người quen tặng mấy tập thơ họ in. Họ đều là những người thành đạt, bận mải công việc mà vẫn in được thơ! Một người là giám đốc doanh nghiệp, một người là cán bộ tuyên huấn của cơ quan bộ, một người là sĩ quan tên lửa, một người là biên tập viên một tờ báo ngành thuần túy chuyên môn, chẳng dính dáng gì đến văn nghệ. Thế mà thơ họ in ra trông thật thích mắt: tên tác giả là người mình biết, sách in đẹp, bìa trang nhã, có tập còn kèm tranh minh họa.

Đọc báo Văn Nghệ số 1+2 năm 2003, gặp bài "Những cái tết của Tản Đà và đầu xứ Tố" của Cao Việt Linh, mới hay in nhiều thơ là cái "nạn" đã có từ lâu: "Năm 1941, gặp khi thơ các kiểu in ra thành tập tràn lan, Ngô Tất Tố bực mình đã kêu lên: "Đầu têu tại ông Tản Đà!" ".Tản Đà là người đầu têu, đi trước trong việc tự in thơ mình, bắt đầu là cuốn "Khối tình con". Mặc dù Ngô Tất Tố khẳng định: "Đành rằng thơ của ông ấy phần nhiều kiệt tác, in ra vẫn là xứng đáng", nhưng khéo đổ tội cho việc tự in thơ của Tản Đà: "Vì việc ấy của ông ta, nên chúng ta ngày nay mới khổ vì thơ", thi tập ra đời vô tội vạ, nháo nhào "không khác lợn con chợ huyện". Nhưng có lẽ phải coi đó là lời trách yêu, bởi vì nhờ vậy mà ngày nay, qua sàng lọc của thời gian, chúng ta mới được đọc những bài thơ, những tập thơ hay đích thực. Xét về khía cạnh nào đó, Tản Đà phải được coi là người có công trong việc phổ biến thơ mới.

Ngày nay với công nghệ in tiên tiến, giấy đẹp đủ loại, kinh tế phát triển, người giầu nhiều lên, tính hợm của, hợm danh cũng tăng theo tỷ lệ thuận, thì thơ in càng nhiều là điều dễ hiểu. Không ít người tự bỏ tiền túi ra in thơ như một thú chơi hiếu dị. Người ta ước tính số tập thơ in ra mỗi năm từ cấp quốc gia đến địa phương phải hàng ngàn đầu sách. Công bằng mà nói, vừa qua một số tác giả suốt đời tâm huyết với thơ đã chọn lọc và cho in các tuyển tập thơ rất đáng trân trọng, người đọc, tìm mua tìm đọc, không dễ kiếm. Ông anh cả tôi ở quê, thích đọc thơ muốn mua mấy tập thơ nói trên mà tìm không có, nhờ tôi ở phố mua giùm cũng không kiếm được. Đành viết thư đến nhà xuất bản đặt mua, không những được đáp ứng, mà chính tác giả ký tên và gửi biếu. Thật quý mối giao tình "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" giữa nhà thơ và bạn đọc như thế.

Nhưng ở bài "Dê cỏn buồn sừng" (VN, số Tết Quý Mùi), tác giả Tương Lai lại cho ta biết rằng, thời nào cũng có người tự huyễn hoặc mình, huyễn hoặc đời, tài năng thấp kém, nhưng lại hợm hĩnh khoe chữ, nên mới nảy nòi các nhà thơ "rởm", in nhiều bài thơ kém. Thời bà Hồ Xuân Hương, những anh tập tọng làm thơ, thích khoe chữ, đã được bà giáo hóa bằng tài năng và nghệ thuật đích thực, và "bằng tài thơ vô song, Hồ Xuân Hương đã làm quang quẻ bớt đi cái sự ô nhiễm bầu khí quyển thơ:
      Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
      Lại đây cho chị dạy làm thơ..."

Trong tình trạng thơ in nhiều, vàng thau lẫn lộn, người đọc đâu có đủ điều kiện và kiên nhẫn tìm tòi, sàng lọc, thẩm định thơ, nên cách dễ làm nhất là quay lưng lại với thơ, rồi ngán thơ, thậm chí "sợ" thơ nữa. Thành ra in nhiều thơ mà không mấy tác dụng, thiệt thòi cho cả hai bên: nhà thơ chân chính và bạn đọc đích thực.

Khi không, chẳng ai muốn trở thành "ong non ngứa nọc" và "dê cỏn buồn sừng" như trong bài thơ nhắc đến ở trên của Hồ Xuân Hương. Và chắc những người làm thơ, in thơ dễ dãi không khỏi lấy làm thẹn lắm thay, đồng thời cũng cảnh tỉnh khi đọc lời dạy của tiền nhân in trang trọng ở trang nhất "Thơ - Phụ bản báo VN quý I/2003:

"Người làm thơ không ngoài lấy trung hậu làm gốc, ý nghĩ phải hàm súc, lời thơ phải giản dị... Lòng người ta là thứ khó lường, phát ra làm thơ, thành ra lời nói, đến nỗi một chữ mà nghĩ ba năm mới được, giảng ngàn năm chưa xong, vì thế tôi cho là khó" (Nguyễn Cư Trinh, 1716-1761)

Vâng, quả vậy, thơ là khó, thơ hay lại càng khó! Thơ tuy không của riêng ai, nhưng xin đừng dễ dãi, tùy tiện với thơ.

                                                                                                                                                                    1/3-2003
                                                                  TRẦN HÙNG
                                                                 (Trần Kiều Am)


                 

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

Thơ Đường luật: Họa 3 bài của Xinh Xinh: CHẲNG THẸN, HÒA ĐỒNG, CÒN DUYÊN

                           CHẲNG  THẸN

                            Họa đảo vận bài "Trách" của Xinh Xinh

        Đừng trách con thuyền bỏ bến sông,
        Để ai gối lẻ những đêm đông.
        Lòng sao vẫn tưởng người trong mộng,
        Ý muốn quyết quên kẻ nhớ mong.
        Xuân đến hè sang khi nắng lửa,
        Thu qua đông tới lúc xao lòng.
        Bốn mùa vẫn giữ mình trung chính,
        Chẳng thẹn soi hình trước kính trong.

                                            12/8-2013
                                      TRẦN KIỀU AM

  
Phụ lục: Trích thơ Xinh Xinh

                       TRÁCH

        Trăng khuya vằng vặc khoảng trời trong,
        Thôi thúc con tim ngọn lửa lòng.
        Mấy chục năm qua không kẻ nhớ,
        Bao mùa xuân đến chẳng người mong.
        Vọng Phu mỏi mắt chờ mưa hạ,
        Tô Thị chồn chân đợi gió đông.
        Trông ngóng từng đêm trong giấc mộng,
        Ai ngờ... thuyền bỏ bến sang sông.

                                          XINH XINH
                       (Chiếu thơ Đường Quốc Oai, Hà Nội)


                       HÒA ĐỒNG

                                Họa nguyên vận bài "Thương thân"
                                                 của Xinh Xinh.

        Tâm tư bối rối sẻ san lòng,
        Ấy chớ ngồi suông tính có không?
        Triệu Ẩu lưng voi vung kiếm bạc ,
        Trưng Vương yên ngựa phất cờ hồng.
        Non sông gấm vóc thêm tươi sáng
        Đất nước thanh bình hết giá đông.
        Nghiệp lớn người xưa nay chẳng thể,
        Thơ ca, bầu bạn sống hòa đồng.

                                           12/8-2013
                                    TRẦN KIỀU AM

  
Phụ lục: Trích thơ của Xinh Xinh


              THƯƠNG THÂN

        Heo hắt sầu đong chạnh cõi lòng,
        Bao năm gối lẻ với phòng không.
        Lệ hoen mi mắt thương thân liễu,
        Phấn nhạt làn môi tủi phận hồng.
        Thao thức đợi chờ từng tháng hạ,
        Âm thầm trông ngóng mấy mùa đông.
        Trách cho con tạo trao duyên bạc,
        Chẳng được cùng ai...trọn chữ đồng.

                                         XINH  XINH


                  CÒN  DUYÊN

                       Họa nguyên vận bài "Đợi" của Xinh Xinh
       
        Mặc cho ai đó bỏ đi Tây,
        Mong một ngày kia nghĩa trả đầy.
        Xum họp vui vầy thôi bóng lẻ,
        Tụ bầy quấn quýt thỏa chim bay.
        Trong nhà giờ vắng mành không động,
        Ngoài ngõ vãn im trúc không lay.
        Tủi phận vội chi, duyên vẫn thắm,
        Còn người, còn lúc...đấy cùng đây.

                                       13/8-2013
                                              TRẦN KIỀU AM 


Phụ lục: Trích thơ của Xinh Xinh


                         ĐỢI

        Trăng xuân chênh chếch phía trời tây,
        Ánh sáng mơn man nỗi nhớ đầy.
        Dưới gốc cây đa hình Cuội đứng,
        Trên vòng nguyệt quế bóng Hằng bay.
        Đìu hiu gió thổi nhành hoa động,
        Heo hắt sương lồng nhánh lá lay.
        Thương phận má hồng ôm gối lẻ,
        Canh chầy thao thức... đợi ai đây?

                           XINH  XINH     
                   

Thứ Năm, 8 tháng 8, 2013

Phiếm luận: HẠT NGỌC LAM ĐIỀN...

                         HẠT NGỌC LAM ĐIỀN
               CỦA NGUYỄN DU
                   (Tản mạn chuyện ngữ nghĩa)

Truyện Kiều của Nguyễn Du, các câu từ 3199 đến câu 3204 tả tiếng đàn của Thúy Kiều khi gặp lại Kim trọng:

        "Khúc đâu đầm ấm dương hòa,
Ấy là hồ điệp hay là Trang Sinh?
        Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục Đế hay mình đỗ quyên?
        Trong sao châu rỏ duyềnh quyên,
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông"

(Xem: TRuyện Kiều-Nguyễn Du. Văn bản cơ sở và chú giải. Đào Duy Anh. NXB Văn học, H. 1979, tr.171)

Ở phần chú giải trang 286 sách trên, chú rằng: "Bốn câu 3200, 3202, 3203, 3204 là do phỏng dịch bốn câu thơ trong bài "Cầm sắt" của Lý Thương Ẩn đời Đường:

        "Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,
        Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên.
        Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,
        Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên"

Trong "Từ điển truyện Kiều" của Đào Duy Anh, NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 1974, trang 211, mục từ "Lam Điền" được giải nghĩa:
"Lam Điền - tên huyện, tên núi trong tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, có tiếng là sản xuất ngọc quý"

Để hiểu thêm mối liên quan giữa điển tích này với mấy câu Kiều của Nguyễn Du kể trên, ta mở xem "Đường thi", NXB Hội nhà văn tái bản năm 2003, Học giả Trần Trọng Kim chú giải bài "Cầm sắt" của Lý Thương Ẩn và nói rõ:
"Nguyễn Tố Như tiên sinh, tác giả truyện Thúy Kiều lấy ý bốn câu tam tứ, ngũ lục mà dịch ra sáu câu lục bát sau này:
       
        Khúc đâu đầm ấm dương hòa,
Ấy là hồ điệp hay là Trang Sinh.
        Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục Đế hay mình đỗ quyên.
        Trong sao châu rỏ duyềnh quyên,
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông.

"Điển cố văn học", do Đinh Gia Khánh chủ biên, NXB Khoa học xã hội, 1977, tr. 266, giải thích từ Lam Điền như sau:
"Lam Điền - tên một dãy núi ở phía đông huyện Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, nơi có ngọc quý, do đó lại có tên là Ngọc Sơn (Núi Ngọc).

Do đó, bốn câu thơ đã trích dẫn của Lý Thương Ẩn và được coi là Nguyễn Du đã phóng tác thành sáu câu lục bát trong truyện Kiều, như đã nói trên, nên hiểu là:

Buổi sớm Trang Chu tỉnh mộng chưa dứt khỏi cơn mơ bươm bướm
                                       (mình hóa ra bướm hay bướm hóa ra mình)
Vọng Đế (vua Thục) là Đỗ Vũ bỏ nước rồi chết hóa ra chim cuốc
                                                                                        (đỗ quyên)
Biển xanh, đêm trăng sáng, những viên trân châu sang lấp lánh như
                                                                     những giọt lệ người đẹp
 Lam Điền nắng lên, mặt trời ấm áp khiến núi Ngọc tỏa mù sương.

Vì vậy, tách riêng câu thơ của Lý Thương Ẩn "Lam Điền nhật noãn, ngọc sinh yên", tuy cũng nhắc đến ngọc, nhưng chỉ có thể hiểu là núi Ngọc tỏa sương khói, mây mù trong ngày nắng ấm ở Lam Điền.

Còn ngọc Lam Điền của Nguyễn Du trong truyện Kiều lại nói rõ: "Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông" thì chính là nhờ vốn tri thức uyên thâm, kiến văn quảng bác, với tài hoa sử dụng ngôn ngữ thành thục, mà tác giả truyện Kiều đã "chế tác" nên hạt ngọc, tuy mượn tên Lam Điền, nhưng mới tinh khôi, chỉ vừa mới đông, còn ấm tay người.

Từ núi Ngọc mờ sương khói Lam Điền trong thơ Lý Thương Ẩn đời Đường, sang hạt ngọc Lam Điền mới đông trong truyện Kiều của Nguyễn Du là sự chuyển hóa tài tình, bất ngờ, đầy sáng tạo, nhuần nhuyễn và hết sức độc đáo của ngữ nghĩa.

Hạt ngọc Lam Điền trong truyện Kiều, do đó là vật báu từ ngữ, là hạt ngọc quý của riêng Nguyễn Du tạo nên, sẽ sáng lấp lánh trong áng thơ tuyệt vời của truyện Kiều và trong ngôn ngữ Việt mãi mãi.

                                                                 1/3-2012
                                                             TRẦN HÙNG 
                                                            (Trần kiều Am)         

Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013

Thơ dịch: THƠ ĐRUNINA I. V. (Nga)

           THƠ ĐRUNINA IULIA VLAĐIMIRÔVLA
         (Dịch từ nguyên bản tiếng Nga)

                                   
Giới thiệu về tác giả
Đrunina Iulia Vlađimirovla sinh năm 1925 tại Matscơva trong một gia đình viên chức. Năm 1941, khi vừa tốt nghiệp trung học phổ thông, bà tình nguyện nhập ngũ, tham gia tiểu đoàn cứu thương phục vụ tại mặt trận. Đến năm 1944 bà được tặng thưởng huân chương Sao Đỏ. Từ năm 1945 đến năm 1952 bà học tại Học viện văn học M. Gorki. Bà bắt đầu có thơ in từ năm 1945, tập thơ đầu tiên được xuất bản tại Mátcơva năm 1948 là tập "Những người mặc áo lính". Tiếp sau lần lượt in các tập "Thơ" (1952), "Đối thoại với trái tim" (1955), đều do NXB "Cận Vệ" ấn hành.
Dưới đây xin dịch và giới thiệu ba bài thơ trích trong "Hợp tuyển thơ Xô Viết 1917-1957" NXB Văn học nghệ thuật, M.1957, t.2,tr. 489-490, 492.

                                                                                           9/5-2005
                                                                                        TRẦN HÙNG
                                                                                     (TRẦN KIỀU AM)


1. MỘT LẦN TÔI CHỨNG KIẾN
            TRẬN GIÁP LÁ CÀ


Một lần tôi chứng kiến trận giáp lá cà,
Chứng kiến một lần thôi,
                           ngàn lần mơ thấy lại.
Ai nói chiến tranh khong có gì sợ hãi,
Kẻ đó không biết gì chiến tranh!

                                             1943


                  DINCA

                    1

Nằm cạnh cây thông xơ xác,
Chúng tôi đợi trời sáng thêm.
Chung áo khoác hai thân thêm ấm,
Đất lạnh thoáng mùi lá mục lên men.

- Iulia biết không, mình có buồn đâu.
Sao hôm nay lòng buồn da diết?
Quê nhà táo ngon, xa xăm heo hút,
Mẹ ơi, mẹ sống vắng con.

Ai cũng có bạn thân quen,
Riêng mình một con, một mẹ,
Nhớ mùi dưa chua, một làn khói nhẹ,
Tưng bừng bên cửa xuân sang.

Mẹ tưởng cỏ cây cũng mong,
Bồi hồi mẹ chờ con gái.
Mình có buồn đâu, Iulia biết đấy,
Sao hôm nay day dứt nỗi buồn?

Nằm sát bên nhau cho ấm,
Bỗng nghe vang lệnh: xung phong!
Bật đậy cùng hàng lao tới,
Phơ phất sau lưng dải tóc vàng.

                       2

Chiến sự ngày thêm khốc liệt,
Chúng tôi đi lặng lẽ, vắng bóng cờ.
Bị địch vây ở Oóc-sa,
Tiểu đoàn cơ hồ tan tác.

Dinca dẫn chúng tôi tấn công,
Xuyên qua vòng vây thép,
Lần theo hố bom và khe suối hẹp,
Vượt qua cái chết tiến lên.

Ai muốn chết vinh quang?
Chúng tôi muốn vinh quang cho sự sống.
Nhưng đã nằm đây người lính tóc vàng,
Thân đẫm máu, quấn đầy băng trắng.

Tôi mím chặt vành môi,
Đắp chiếc áo lính đơn sơ
                              lên thân người chiến sĩ.
Những làn gió Bạch Nga thủ thỉ
Kể chuyện mảnh vườn xa vắng Riazan...

                      3

- Dinca biết không, mình có buồn đâu,
Sao hôm nay lòng buồn da diết?
Quê nhà táo ngon, xa xăm heo hút,
Mẹ Dinca vẫn sống vắng con!

Quanh tôi lắm bạn thân quen,
Dinca nằm lại một mình.
Thoảng mùi dưa chua, một làn gió nhẹ,
Tưng bừng bên cửa xuân sang.

Mẹ già mặc áo mầu tang,
Trước ảnh con âm thầm thắp nến.
Biết nói sao cho mẹ an lòng,
Dinca, mẹ đừng trông ngóng.

                                       1944   


        KHÔNG BIẾT Ở ĐÂU
   TÔI HỌC TÍNH DỊU DÀNG


Không biết ở đâu tôi học tính dịu dàng?
Chớ hỏi, người ơi, chớ hỏi...
Mồ chiến sĩ mọc trên đồng nội,
Tuổi trẻ tôi khoác áo nhà binh.

Trước mắt tôi cuồn cuộn khói bốc lên,
Những đám cháy thiêu nước Nga rừng rực.
Đôi môi trẻ chưa hôn ai mím chặt,
Ngã xuống chàng trai thương tích đầy người.

Chúng tôi từng qua cảnh đau xót của rút lui,
Không phải qua tin thông báo.
Súng nổ ầm ầm, nhả đạn trên mâm pháo,
Người nảy chồm chồm trong chiến xa.

Buổi chiều nay đứng trước nấm mồ chung,
Cúi đầu lặng lẽ.
Không biết ở đâu tôi học tính dịu dàng?
Có lẽ trên đường ra trận.
                                              1946
                                        TRẦN HÙNG
                                     (TRẦN KIỀU AM)